Tiếng Việt  English 
Đăng nhập

Tài khoản cá nhân
E-Mail Address:

Mật khẩu:



 

Omega 3 - acid béo có lợi cho cơ thể

1. Vì sao Omega-3 là acid béo có lợi

Không phải tất cả các chất béo đều có hại và Omega-3 là là một trong số đó. Omega-3 có thể giúp giảm nguy cơ bệnh tim mạch, trầm cảm, mất trí nhớ và viêm khớp. Cơ thể không tự sản xuất ra được do đó cần bổ sung Omega-3 từ thực phẩm.

2. Phân loại omega-3

Có nhiều loại acid béo omega-3. Loại omega-3 có trong cá là acid docosahexaenoic (DHA) và acid eicosapentaenoic (EPA) dường như là có lợi cho sức khỏe nhất. 1 loại khác là alphalinoleic (ALA) có trong dầu thực vật, hạt lanh, quả óc chó và các loại rau có màu xanh thẫm như rau chân vịt. Cơ thể chỉ có thể chuyển 1 lượng nhỏ ALA thành EPA và DHA.

3. Omega-3 chiến thắng bệnh tật bằng cách nào?

Omega-3 bảo vệ tim mạch bằng nhiều cơ chế. Omega-3 kiểm soát viêm ở mạch máu và cả những phần còn lại của cơ thể. Với liều cao, omega-3 làm chậm nhịp tim và giảm nồng độ acid béo triglycerid. Hơn nữa, omega-3 có thể làm chậm sự tích tụ các mảng xơ vữa trong mạch máu.

4. Với bệnh nhân tim mạch

Hiệp hội Tim mạch Hoa Kì khuyến cáo 1g EPA và DHA mỗi ngày cho bệnh nhân tim mạch. Ăn cá là tốt nhất nhưng bác sĩ cũng có thể chỉ định bổ sung viên dầu cá. Với bệnh nhân đột quỵ, bổ sung omega-3 liều cao có thể có lợi cho bệnh nhân. Nghiên cứu chỉ ra rằng tăng hàm lượng omega-3 giúp giảm những cơn nhồi máu cơ tim và giảm tỉ lệ bệnh nhân tử vong do bệnh lí tim mạch.

5. Omega-3 giúp làm chậm nhịp tim

Omega-3 dường như có hiệu quả ổn định trên tim, làm chậm nhịp tim và giúp ngừa loạn nhịp tim. Cá, quả óc chó, bông cải xanh và đậu nành là những nguồn cung cấp omega-3 nhiều nhất.

6. Omega-3 giúp giảm triglycerid

Omega-3 DHA và EPA có thể giảm nồng độ triglycerid-chất béo trong máu liên quan đến bệnh lí tim mạch. Nếu sử dụng dầu cá để bổ sung omega-3 cần hỏi ý kiến bác sĩ vì một vài loại có thể làm tăng cholesterol “xấu” cho cơ thể. Tập thể dục thường xuyên, giảm uống rượu, giảm đồ ngọt và tinh bột đã chế biến như gạo trắng, bánh mì trắng sẽ giúp giảm nồng độ triglycerid.

7. Omega-3 làm hạ huyết áp

Omega-3 cũng góp phần hạ huyết áp. Đồng thời, thay thịt đỏ bằng cá, tránh ăn cá mặn như cá hồi hun khói và giảm muối trong bữa ăn là những biên pháp hữu hiệu trong kiểm soát tốt huyết áp.

8. Omega-3 giúp ngăn ngừa đột quỵ

Thực phẩm và những nguồn bổ sung omega-3 giúp giảm mảng xơ vữa mạch máu, đảm bảo máu lưu thông bình thường. Do đó, omega-3 có thể giúp ngăn chặn những cơn đột quỵ do cục máu đông hoặc thuyên tắc động mạch. Tuy nhiên, bổ sung liều cao omega-3 có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ do xuất huyết nên cần hỏi ý kiến bác sĩ trước tiên.

9. Omega-3 có lợi cho viêm khớp

Nghiên cứu cho thấy omega-3 có thể kìm chế triệu chứng đau khớp, cứng khớp ở bệnh nhân viêm khớp. Chế độ ăn giàu omega-3 có thể làm tăng hiệu quả của các thuốc kháng viêm.

10. Omega-3 có lợi cho não và bệnh nhân bệnh trầm cảm

Tỉ lệ trầm cảm thấp ở những quốc gia mà chế độ ăn giàu omega-3. Tuy nhiên, omega-3 không phải là liệu pháp điều trị trầm cảm.

11. Omega-3 có thể có lợi cho bệnh nhân rối loạn tăng động, giảm tập trung

Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng bổ sung omega-3 có thể giúp giảm triệu chứng sự rối loạn tăng động và giảm tập trung. Omega-3 có vai trò quan trọng cho sự phát triển và chức năng của não. Omega-3 có thể làm tăng hiệu quả của điều trị nhưng không phải là liệu pháp điều trị thay thế.

12. Nghiên cứu trên bệnh nhân mất trí nhớ

Một vài bằng chứng về omega-3 có thể chống lại chứng mất trí nhớ và những suy giảm trí tuệ do tuổi tác. Trong 1 nghiên cứu, bệnh nhân cao tuổi với chế độ dinh dưỡng giàu omega-3 dường như ít mắc bệnh Alzheimer hơn. Tuy nhiên, cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để chứng minh.

13. Omega-3 và trẻ em

Nên thận trọng với những lời quảng cáo rằng omega-3 đẩy mạnh sự phát triển não bộ của trẻ em. Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kì đã yêu cầu những công ty thực phẩm chức năng ngừng quảng cáo điều này trừ khi họ có thể chứng minh trên căn cứ khoa học. Viện Hàn lâm Hoa Kì về trẻ em khuyến cáo trẻ em nên ăn cá, nhưng không nên ăn các loại cá có hàm lượng chì cao như cá mập, cá kiếm, cá thu, cá kình.

14. Cá và omega-3

Nguồn cung cấp omega-3 DHA và EPA tốt nhất là cá. Những loại cá khác nhau cho hàm lượng acid béo khác nhau. Trong đó, nhiều nhất là cá hồi, cá thu, cá trích, cá mòi, cá cơm, cá ngừ. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kì khuyến cáo nên ăn ít nhất 2 khẩu phần cá mỗi tuần với mỗi khẩu phần là 100g cá đã nấu chín hoặc ¾ chén cá xé.

15. Cá ngừ

Cá ngừ là nguồn cung cấp omega-3 dồi dào và hàm lượng khác nhau tùy loài.

16. Tránh ăn cá bị nhiễm thủy ngân

Với hầu hết mọi người, thủy ngân trong cá không phải là vấn đề đáng lo ngại. Tuy nhiên, FDA khuyến cáo cho trẻ em, phụ nữ mang thai và cho con bú tránh ăn cá mập, cá kiếm, cá thu và cá kình-những loại cá có hàm lượng thủy ngân cao.

17. Bổ sung omega-3

Với người không thích ăn cá vẫn có những nguồn bổ sung omega-3 khác. 1g omega-3 mỗi ngày được khuyến cáo cho bệnh nhân tim mạch nhưng cần hỏi ý kiến bác sĩ trước tiên. Liều cao omega-3 có thể làm giảm hiệu quả của vài thuốc khác hoặc làm tăng nguy cơ xuất huyết.

18. Nguồn rau xanh cung cấp omega-3

Nếu không ăn cá hoặc dầu cá vẫn có thể có lượng DHA cao từ nguồn bổ sung từ tảo nuôi trong môi trường nhân tạo an toàn. Những nguồn rau xanh bổ sung ALA- dạng khác của omega-3 là dầu hạt cải, hạt hướng dương, quả óc chó, bông cải xanh và rau chân vịt.

19. Thận trọng với thực phẩm chức năng bổ sung omega-3

 

Nhiều loại thực phẩm chức năng bổ sung omega-3 nhưng lưu ý rằng có thể lượng omega-3 có trong những sản phẩm này có thể là rất hạn chế. Chúng có thể chứa dạng ALA của omega-3-dạng acid mà vẫn chưa được chứng minh là có lợi cho sức khỏe như DHA và EPA. Với liều omega-3 được tính toán thì sử dụng dầu cá bổ sung omega-3 đáng tin cậy hơn.

(Nguồn: WebMD)

Tags: Omega 3,